Những khái nhiệm cơ bản về HIV
(Ảnh minh họa)
(Liên hệ với số hotline: 097 377 2608 để được tư vấn trực tiếp)
HIV từ viết tắt bằng tiếng Anh của loại Virus làm suy giảm hệ miễn dịch của con người. Nó có thể bị lây qua đường máu hoặc đường tình dục. Hiện khoa học chưa phát hiện ra Vaccine hoặc thuộc hữu hiệu đặc trị HIV, vì vậy nó vẫn được coi là một trong những căn bệnh thế kỷ mà loài người phải đối phó.
01. Tác nhân gây bệnh (Pathogen) – là một tác nhân sinh học gây bệnh và tạo ra trạng thái bệnh tật cho cơ quan nơi nó cư trú. Các tác nhân gây bệnh chủ yếu ảnh hưởng tới con người là những loại vi trùng (ví dụ loại vi khuẩn hình que Samonella), các loại vi rút (như vi rút cúm), nguyên sinh động vật (như bệnh sốt rét), nấm (ví dụ như men), và ký sinh trùng (ví dụ như sán lai).
02. Virus – không giống như vi khuẩn, con virus sinh sản Nó phải nằm bên trong tế bào chủ và tìm cách kiểm soát hệ thống của nó thì mới làm được việc đó. Một vài loài virus có thể tồn tại bên trong cơ thể dưới trạng thái "ngủ" tự tái sinh sản ở mức độ thấp tạo nên một số triệu chứng lâm sàng. Loại virus này có thể chuyển sang trạng thái hoạt động qua hoạt động sinh sản diện rộng nhàm tạo ra hàng bản sao virus một ngày. Dù có rất nhiều loại thuốc dùng trị vi khuẩn (thuốc kháng sinh), nhưng rất ít loại thuốc trị virus được biết tới.
03. HIV – nghĩa là Virus làm suy giảm miễn dịch trong cơ thể người. Giống như bệnh cụm hoặc viêm gan, nó là loài virus ảnh hưởng tới con người. Tuy nhiên HIV là ngoại lệ vì ba lý do sau: (1) nó chủ yếu hướng tới một số loại tế bào trong hệ miễn dịch, (2) có thể giết chết tế bào chủ và (3) đột biến rất nhanh.
04. Hệ miễn dịch – hệ miễn dịch của con người có ba lớp bảo vệ: vật lý, mang tính bẩm sinh và khả năng thích ứng. Rào cản vật lý giống như màng nhầy chắn các tác nhân gây bệnh thâm nhập vào cơ thể tại vị trí đầu tiên. Đây là lớp bảo vệ thứ nhất. Nếu một tác nhân gây bệnh vượt qua rào cản này thì hệ miễn dịch bẩm sinh sẽ có phản ứng lập tức và không định sẵn như bị sưng tấy hoặc phát sốt. Nếu kẻ xâm nhập còn sau các phản ứng bẩm sinh thì hệ thích ứng sẽ bắt đầu nghiên cứu tác nhân gây bệnh trong quá trình lây nhiễm để tìm ra điểm yếu và loại trừ nó. Nó sẽ sử dụng bộ nhớ miễn dịch để nhận dạng tác nhân này và tìm cách tấn công một cách nhanh chóng và mạnh mẽ hơn.
05. Tế bào Lympho T – có rất nhiều loại tế bào liên quan tới quá trình phản ứng miễn dịch. Một nhóm tế bào có vai trò sống còn đối với hệ miễn dịch được gọi là T-cells (các tế bào Lympho T). T-cells là một loại tế bào Lympho, dạng tế bào máu trắng. Có rất nhiều dạng T-cells, mỗi dạng đóng một vài trò khác nhau trong quá trình phản ứng miễn dịch của cơ thể.
06. Tế bào CD4 – một dạng tế bào Lympho T, được biết với cái tên Lympho T hỗ trợ (Helper T-cells). Helper T-cells điều chỉnh phản ứng miễn dịch thích ứng và bẩm sinh và giúp xác định loại phản ứng miễn dịch nào mà cơ thể sẽ tạo ra đối với tác nhân gây bệnh. Những tế bào này không giết chế những tế bào nhiễm bệnh hoặc tác nhân gây bệnh trực tiếp. Thay vào đó, chúng là bộ não của các hoạt động, kiểm soát phản ứng miễn dịch bằng điều khiển những tế bào khác thực hiện nhiệm vụ. Nếu tế bào CD4 bị mất, cơ thể sẽ dễ bị tổn thương vì những hệ thống tế bào khác không biết làm gì. HIV chủ yếu hướng vào tế bào CD4. Virus thâm nhập vào tế vào và sử dụng nó để tạo ra nhiều virus hơn trước khi phá huỷ tế bào chủ. Khi HIV hoạt động, một hiệu ứng theo cấp số nhân sẽ diễn ra. Nó chỉ là vấn đề thời gian trước khi số lượng CD4 giảm xuống tới mức thấp khiến chúng hoàn toàn không còn tác dụng. Việc nhiễm HIV dẫn tới giảm số lượng tế bào CD4 qua 03 cơ chế chính: (1) virus giết tế bào chủ trực tiếp; (2) tỉ lệ tự phá huỷ tăng lên trong tế bào bị nhiễm; và (3) giết tế bào CD4 bị nhiễm bằng tế bào miễn dịch (Lympho CD8) nhận biết và giết tế bào bị nhiễm.
07. Tính số lượng CD4 – việc đo số lượng CD4 trong máu để chẩn đoán sứ khoẻ của hệ miễn dịch bị nhiễm HIV. CD4 là chỉ số đầu tiên các bác sĩ sử dụng để theo dõi tình trạng tổng quan của hệ miễn dịch của bệnh nhân. Thử nghiệm rất đơn giản và tương đối rẻ tiền. Thử nghiệm có hai giới han trong việc kiểm tra HIV. Có nhiều yếu tố, ngoài tác động từ HIV, có thể ảnh hưởng số lượng CD4 trong máu tại một thời điểm nhất định. Vì vậy bác sĩ không thể chắc chắn về số lượng CD4 trong hệ miễn dịch bị nhiễm HIV hoặc những yếu tố khác. Thứ hai, nó có thể cần tới 6 tháng từ khi bị nhiễm HIV cho tới khi số lượng CD4 bị giảm mạnh mẽ.
08. Tính lượng virus – trong khi CD4 đo phản ứng của cơ thể đối với virus, việc định lượng virus xác định số lượng tác nhân gây bệnh trong máu một cách trực tiếp. Việc đo này thường thể hiện bằng số lượng bản sao RNA trên một ml máu. Tỷ lệ virus thấp thường vào khoảng 200-500 bản sao trong 1ml, phụ thuộc vào hình thức thử được sử dụng. Kết quả này chỉ ra rằng HIV đang trong tình trạng ngủ. Tỉ lệ virus cao là từ 5.000-10.000 bản sao và có thể lên tới 1 triệu hoặc nhiều hơn. Điều này có nghĩa là virus dương tính và bệnh tiến triển nhanh. Thử nghiệm kiểm tra số lượng virus là một chỉ số đáng tin cậy hơn tính tỷ lệ CD4 và là chỉ số đáng tin cậy hơn xác định tăng trưởng của bệnh. Thử nghiệm dạng này không phổ biến tại những nước đang phát triển do thiếu nguồn lực thực hiện. Thiết bị tiến hành thử nghiệm đòi hỏi phòng thí nghiệm phải được trang bị nhiều thiết bị tiên tiến, một điều khó thành hiện thực tại những nơi ít nguồn lực.
09. AIDS – khi HIV làm giảm số lượng CD4 xuống dưới 200 tế bào/µl (tỷ lệ CD4 xuống dưới 14%) khi hệ miễn dịch của người được coi không đủ khả năng chống lại tác nhân gây bệnh xâm nhập. Những người nhiễm HIV ở mức độ này được coi là đã nhiễm triệu chứng suy giảm miễn dịch (AIDS). AIDS là hậu quả của việc nhiễm HIV. Khi virus giết tế bào CD4, bệnh sẽ giết cơ quan chủ bằng cách khiến nó dễ bị tổn thương trước hàng triệu tác nhân gây bệnh tấn công cơ thể hàng ngày. Một khi bệnh nhân HIV đạt tới mức độ này, họ sẽ chết vì nhiễm trùng và có thể bị chết trong vòng 9,2 tháng nếu không được chữa trị.
10. ARVs – thuốc kháng virus. Có nhiều loại thuốc sử dụng tác động tới việc nhiễm HIV. Trong khi không thể chữa được HIV, các loại thuốc này coi là thành công nếu là chậm sự tăng trưởng của bệnh bằng cách can thiệp tới virus ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình phát triển. Có khoảng hơn 20 loại thuốc kháng Virus HIV trên thị trường, nhưng chỉ một nhóm trong số này sẵn có cho các nước đang phát triển. Trong hầu hết các nước này, có hai sự kết hợp thuốc chính dành cho người bệnh, được đề cập tới như việc chữa trị cấp một và cấp hai. Thuốc sử dụng trong cấp hai đắt gấp 8 lần cấp một - một sự cân nhắc đáng kể trong môi trường thiếu nguồn lực. Ngày nay, một logic đáng lưu ý là bắt đầu chữa trị bằng thuốc thuộc dòng đầu ngay khi HIV dương tính, nó có thể duy trì cuộc sống nhiều năm từ khi bị nhiễm. Để tránh tạo ra và phát tán HIV, cần ngừng sử dụng những loại thuốc hàng đầu ngay khi bệnh nhân không còn phản ứng với nó và chuyển sang dạng thuốc thứ hai. Các bệnh nhân không có điều kiện, một khi đạt tới điểm này thì sẽ không thể điều trị tiếp để giảm tác động của HIV.
11. Sức đề kháng – vòng đời của HIV kéo dài khoảng một ngày rưỡi. Trong thời gian đó nó sẽ thâm nhập vào một tế vào, thay đổi DNA trong tế bào chủ, tạo các bản sao của chính nó và phát hành những bản sao này trong máu để lây tới những tế bào khác. Khi HIV tạo ra các bản sao của chính nó, nó thiếu một chất xúc tác phổ thông đọc thử, tạo sai lầm trong quá trì nhân bản. Những sai lầm này được gọi là đột biến. Sự kết hơp một vòng đời ngắn và tỉ lệ lỗi cao khiến HIV đột biến rất nhanh. Kết quả tạo thành những biến dạng gen lớn của HIV. Hầu hết các lỗi sao chép tạo sự bất lợi cho sự đột biến. Tuy nhiên hầu hết lỗi này sẽ tạo ra lợi thế khiến cho gen đột biến vô cảm với ARV được sử dụng. Điều này sẽ tạo cho gen đột biến khả năng sống sót và cho phép nó tăng nhanh khả năng tạo những virus đề kháng.
12. Vaccine – được tạo thành từ các chất có thể giúp cơ thể nhận biết và phá huỷ tác nhân gây bệnh như vi khuẩn hoặc virus. Vaccine kích thích phản ứng của hệ miễn dịch đối với những hiểm hoạ. Cho tới nay chưa có Vaccine cho HIV nhưng đang có nhiều nghiên cứu trên thế giới xúc tiến để tìm ra loại Vaccine này. Khả năng tạo ra Vaccine đang bị nghi ngờ do tỉ lệ đột biến cao của HIV.
13. Truyền nhiễn – nhiễm HIV xẩy ra qua truyền máu, tinh trùng, dịch âm đạo hoặc sữa mẹ. Trong những chất này của cơ thể, HIV xuất hiện vừa như tác nhân gây bệnh và virus trong tế bào miễn dịch bị nhiễm. Ba nguồn truyền nhiễm chính là tình dục không an toàn, kim tiêm và truyền từ mẹ sang con thông qua sữa.
* Mọi chi tiết xin liên hệ:
XÉT NGHIỆM NHANH
Địa Chỉ : 311/2/7 Nơ Trang Long P.13 Q. Bình Thạnh Tp . HCM
Website : www.xetnghiemnhanh.com - www.xetnghiemmau.com







0 nhận xét:
Đăng nhận xét